Thứ Năm, 12 tháng 9, 2013

Định hướng đổi mới các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân những sách.

Hai là,   nâng cao hiệu quả hoạt động các quỹ tài chính quốc gia

Định hướng đổi mới các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách

Bên cạnh đó, theo quy định tại Quyết định số 192/2004/QĐ-TTg ngày 16/11/2004 của Thủ tướng Chính phủ và quy định tại các quyết định thành lập quỹ, các quỹ tài chính quốc gia phải thực hiện chế độ công khai tài chính để tăng cường vai trò giám sát của các cơ quan quốc gia có liên quan và dân chúng.

Cũng phù hợp với thông lệ quốc tế, san sớt gánh nặng tài chính giữa quốc gia, doanh nghiệp và người cần lao. Trong điều kiện nguồn lực của ngân sách còn hạn chế thì việc tập kết một số nguồn thu riêng hoặc huy động thêm nguồn lực tài chính cho một số nhiệm vụ chi đã có tác động tích cực trong việc giải quyết một số nhiệm vụ quan trọng, các vấn đề an sinh xã hội, như: khám chữa bệnh cho người nghèo (Quỹ khám chữa bệnh cho người nghèo); đầu tư phát triển nhà ở (các Quỹ phát triển nhà ở địa phương); hỗ trợ giải quyết việc làm (Quỹ nhà nước giải quyết việc làm).

Trong thời gian tới, cần nghiên cứu ban hành phạm vi pháp lý quy định hợp nhất về quản lý các quỹ tài chính quốc gia, trong đó quy định rõ về điều kiện thành lập, thẩm quyền cho phép thành lập, nguyên tắc về tổ chức, cơ chế tài chính, cơ chế hoạt động quỹ, cũng như quan hệ giữa các quỹ tài chính với NSNN và giữa các quỹ trong hệ thống tài chính quốc gia.

Đối với các quỹ tài chính quốc gia Trung ương do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập và giao cho các Bộ, cơ quan Trung ương quản lý, dùng cho các mục tiêu chung của nhà nước hoặc của ngành; các quỹ tài chính quốc gia địa phương do Ủy ban quần chúng.

Cũng tạo điều kiện lôi cuốn thêm các nguồn lực cả trong và ngoài nước, giảm bớt sự bao cấp từ ngân sách và giảm gánh nặng cho ngân sách. ; Quỹ đầu tư như: Quỹ đầu tư phát triển của địa phương, Quỹ phát triển nhà địa phương… - Xét theo mối quan hệ với NSNN: Các quỹ tài chính nhà nước được chia thành: Quỹ hoạt động độc lập với NSNN (NSNN không tương trợ vốn thành lập ban sơ và kinh phí trong quá trình hoạt động) như: Quỹ bảo hiểm tầng lớp tình nguyện; Quỹ bảo hiểm y tế; Quỹ bình ổn giá xăng dầu…; Quỹ hoạt động độc lập tương đối với NSNN (được NSNN hỗ trợ vốn thành lập hoặc/và tương trợ một phần kinh phí hoạt động liền): Quỹ phát triển khoa học công nghệ nhà nước; Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam; Quỹ phát triển cộng tác xã Việt Nam…  thực tiễn thời gian qua số lượng các quỹ tài chính quốc gia tăng nhanh; đồng thời có khuynh hướng khi trình Quốc hội ban hành các luật quản lý chuyên ngành đều kèm theo các quy định về thành lập các quỹ tài chính nhà nước  - Xét theo thuộc tính tài trợ của quỹ: Các quỹ tài chính quốc gia được chia thành: Quỹ có bồi hoàn (cho vay có thu hồi), như: Quỹ đầu tư phát triển địa phương; Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa; Quỹ quốc gia giải quyết việc làm…; Quỹ không bồi thường (cấp phát từ quỹ), như: Quỹ hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS; Quỹ bảo hiểm thất nghiệp…; Quỹ lưỡng tính (vừa cấp phát, vừa cho vay có thu hồi), như: Quỹ phát triển hiệp tác xã Việt Nam; Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam.

Về chỉ dẫn cơ chế tài chính các quỹ tài chính nhà nước, theo chức năng, nhiệm vụ được giao, Bộ Tài chính đã ban hành hoặc phối hợp với các Bộ, cơ quan Trung ương có liên tưởng ban hành văn bản chỉ dẫn thực hiện chế độ tài chính đối với các quỹ tài chính nhà nước.

Duyệt y các hoạt động của các quỹ, thị trường tài chính, thị trường tiền tệ phát triển, tạo lập được nguồn vốn nhàn rỗi và tăng khả năng ứng phó với các rủi ro.

Chẳng hạn như: Quỹ bảo hiểm xã hội buộc có số dư đến cuối năm 2011 ước khoảng 156. Xét về quy mô, có một số quỹ tài chính nhà nước của Trung ương như: Quỹ bảo hiểm từng lớp buộc, Quỹ bảo hiểm y tế, Quỹ bảo hiểm thất nghiệp, Quỹ cho vay giải quyết việc làm, Quỹ tương trợ sắp đặt doanh nghiệp Trung ương, Quỹ tích lũy trả nợ và các Quỹ đầu tư phát triển ở địa phương là có nguồn thu - nhiệm vụ chi lớn (chiếm trên 95% tổng số chi của các quỹ tài chính nhà nước); còn lại cốt yếu là các quỹ có quy mô vốn nhỏ, khuôn khổ hoạt động hẹp trong một lĩnh vực hoặc một địa phương.

Bên cạnh đó, việc thành lập các quỹ tài chính quốc gia cho các mục tiêu an sinh từng lớp, hỗ trợ người nghèo, người yếu thế trong xã hội.

Hiện nay, các quỹ tài chính nhà nước đều được thành lập theo quy định của các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Ở nước ta, do yêu cầu hội tụ nguồn lực tài chính của quốc gia để thực hiện một số nhiệm vụ chính trị - từng lớp, đáp ứng đề nghị phát triển sơn hà.

). Trong thời gian tới, yêu cầu các bộ, ngành, địa phương cần tiếp chuyện thực hành kiểm tra lại các quỹ tài chính quốc gia hiện có; tiếp tục đẩy mạnh thực hành sắp xếp lại các quỹ theo tinh thần Chỉ thị số 24/2007/CT-TTg ngày 1/11/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường chấn chỉnh việc thực hiện các quy định của pháp luật về phí, lệ phí, chính sách huy động và sử dụng các khoản đóng góp của quần chúng.

Để đảm bảo tính thống nhất trong việc quản lý thu, chi đối với các quỹ tài chính quốc gia, Bộ Tài chính đang nghiên cứu sửa đỏi, bổ sung quy định trong Luật NSNN về khái niệm quỹ tài chính quốc gia, quy định rõ quỹ tài chính nhà nước là quỹ có nguồn thu (một phần hay bít tất) được hình thành từ khoản thu của nhà nước và có nhiệm vụ chi (một phần hay bít tất) là các nhiệm vụ chi của quốc gia, nhưng không trùng với nhiệm vụ chi của NSNN.

498 tỷ đồng trong giai đoạn 2006-2010; các quỹ tài chính thực hành mục tiêu hỗ trợ người nghèo, người yếu thế trong tầng lớp (Quỹ bảo trợ trẻ nít, Quỹ tương trợ người nhiễm HVI/AIDS,…) cũng huy động thêm nguồn lực đóng góp của cộng đồng.

Do đó, việc thành lập nhiều quỹ tài chính quốc gia mà nguồn cân đối đẵn là từ NSNN sẽ dẫn đến tình trạng phân tán nguồn lực NSNN.

Thực tế thời kì qua số lượng các quỹ tài chính nhà nước tăng nhanh; đồng thời có xu hướng khi trình Quốc hội ban hành các luật quản lý chuyên ngành đều kèm theo các quy định về thành lập các quỹ tài chính nhà nước (Luật liên lạc đường bộ; Luật hiệp tác xã; Luật khoa học và công nghệ; Luật bảo vệ môi trường.

500 tỷ đồng với sự tham dự của trên 7,9 triệu đối tượng; Quỹ dịch vụ viễn thông công ích huy động đóng góp từ các doanh nghiệp 5. Bài đăng trên tập san Tài chính số 8 - 2013. 700 tỷ đồng với sự tham dự đóng góp của trên 10 triệu đối tượng; Quỹ bảo hiểm y tế có số dư đến cuối năm 2011 ước khoảng 9.

Trong một số trường hợp, nguồn thu đúng ra phải được tụ hội vào ngân sách thì lại đưa vào quỹ tài chính; hoặc nhiệm vụ chi của quỹ tài chính nhà nước trùng với nhiệm vụ chi của NSNN (Quỹ bảo trì đường bộ có nguồn thu từ phí dùng đường bộ, Quỹ môi trường được bổ sung từ phí bảo vệ môi trường…). Nguồn: internet  Nhìn từ nhu cầu và các quy định   Các nước trên thế giới đều có quỹ tài chính ngoài ngân sách, cốt trong các lĩnh vực an sinh từng lớp, săn sóc y tế, liên lạc, lương hưu… Tuy nhiên, mức độ phát triển, quy mô và cơ chế quản lý, dùng các quỹ tài chính ngoài ngân sách khác nhau.

Để bảo đảm hoạt động có hiệu quả các quỹ tài chính nhà nước, nâng cao tính độc lập, khả năng tự cân đối của quỹ, hạn chế tài trợ từ NSNN, kiến nghị không thành lập thêm các quỹ không có khả năng tài chính độc lập, đặc biệt là các quỹ có nguồn huy động, tài trợ cốt là từ NSNN. Thứ ba,   cần tăng cường cơ chế kiểm soát đối với các quỹ tài chính nhà nước. 100 tỷ đồng với sự tham gia của trên 55,8 triệu đối tượng; Quỹ bảo hiểm thất nghiệp có số dư đến cuối năm 2011 ước khoảng 15.

Nên chi, trong trường hợp Hội đồng quản lý, Ban kiểm soát, Bộ máy quản lý điều hành quỹ yếu kém, quản lý không chặt đẹp sẽ dễ dẫn đến khả năng vi phạm chế độ xài, sử dụng kinh phí sai mục đích, thất thoát, phí phạm.

Ảnh minh họa. Duyệt hoạt động của một số quỹ tài chính nhà nước, cũng góp phần thúc đẩy quá trình tầng lớp hóa, giải quyết có hiệu quả nhiều vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh, đặc biệt là các vấn đề xã hội bức xúc. Thứ hai,   một số quỹ tài chính quốc gia chưa có phân định rõ ràng, trùng nguồn thu, nhiệm vụ chi với NSNN.

Tùy theo quy mô, thuộc tính hoạt động, vắng quyết toán tài chính hàng năm của một số quỹ tài chính quốc gia phải được kiểm toán theo quy định. Bên cạnh đó, việc giám sát của các cơ quan quyền lực (Quốc hội, hội đồng nhân dân) và cơ quan kiểm toán còn hạn chế.

). Một số tồn tại     Bên cạnh mặt hăng hái trên, các quỹ tài chính quốc gia cũng còn một số mặt hạn chế, cần phải khắc phục, như:  Thứ nhất,   việc huy động của một số quỹ tài chính nhà nước còn hạn chế, cốt tử vẫn là từ NSNN, dẫn đến tình trạng phân tán nguồn lực NSNN.

Song song, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung quy định của Luật NSNN về chế độ báo cáo, công khai đối với các quỹ tài chính nhà nước, để tăng cường vai trò rà soát, giám sát của các cơ quan quyền lực nhà nước và Kiểm toán nhà nước đối với các quỹ tài chính nhà nước. Nên chi, cấp thiết thành lập các quỹ tài chính nhà nước để tụ tập nguồn lực để thực hiện các nhiệm vụ này. Thời kì qua, một số quỹ tài chính đã thực hiện huy động đóng góp của các DN, các tổ chức kinh tế và người cần lao (đốn là huy động nép), qua đó đã động viên thêm được nguồn tài chính phục vụ cho một số mục tiêu của cộng đồng hoặc của ngành, lĩnh vực, thực hành tốt các chính sách an sinh tầng lớp.

Theo quy định các quỹ tài chính quốc gia thực hành cơ chế "tự kiểm soát" ăn tiêu. Ba là,   tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với các quỹ tài chính quốc gia. Hai là,   tập trung nguồn lực tài chính để thực hành một số đích, nhiệm vụ nhất thiết.

Ngoại giả, việc thành lập các quỹ tài chính nhà nước có sự tham gia đóng góp của người hưởng lợi như Quỹ bảo hiểm từng lớp, Quỹ bảo hiểm y tế, Quỹ bảo hiểm thất nghiệp. Tình trạng này, một phần do duyên cớ Luật NSNN hiện hành năm 2002 và các văn bản hướng dẫn thi hành luật chưa có quy định hay phân định cụ thể phạm vi các khoản thu được đưa vào các quỹ tài chính quốc gia là thuộc hay không thuộc NSNN.

Dù rằng nguyên tắc tự bảo toàn vốn được đặt ra khi quyết định thành lập, nhưng nhìn chung, trừ các quỹ tài chính có hình thức huy động, đóng góp của đối tượng hưởng lợi (Quỹ bảo hiểm từng lớp nép, Quỹ bảo hiểm y tế, Quỹ bảo hiểm thất nghiệp…) và một số quỹ tài chính có đích an sinh tầng lớp, hỗ trợ người nghèo, người yếu thế trong xã hội, thì nhiều quỹ tài chính quốc gia nguồn vốn hoạt động cốt tử là từ NSNN, nguồn huy động ngoài ngân sách rất hạn chế (Quỹ phát triển khoa học nhà nước; Quỹ bảo vệ môi trường, Quỹ tương trợ phát triển hợp tác xã.

- Xét theo thuộc tính bức: Quỹ tài chính nhà nước được phân thành: Quỹ huy động bắt, như: Quỹ bảo hiểm tầng lớp bức, Quỹ bảo trì đường bộ…; Quỹ huy động tự nguyện, như: Quỹ bảo hiểm xã hội tình nguyện… Một trong những vấn đề được quan hoài nhiều đối với hoạt động của các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách là chế độ báo cáo, công khai. Với việc phát triển các quỹ thì các hoạt động tài chính nhà nước cũng trở nên đa dạng, phong phú hơn.

Ba là, góp phần phát triển mở rộng, đa dạng các hoạt động tài chính của quốc gia. Kết quả hoạt động và một số tồn tại      Những mặt tích cực      Một là,   một số quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách đã huy động thêm nguồn lực tài chính để thực hiện những đích nhất định. - Xét theo đặc điểm và mục đích dùng: Các quỹ tài chính quốc gia được chia thành: Quỹ chuyên dùng chỉ sử dụng cho một số nhiệm vụ, hoạt động cố định, như: Quỹ phát triển khoa học công nghệ quốc gia; Quỹ tích lũy trả nợ nước ngoài; Quỹ hỗ trợ phát triển hiệp tác xã Việt Nam; Quỹ bảo vệ môi trường.

# Cấp tỉnh quyết định thành lập, quản lý và dùng cho các đích phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Định hướng đổi mới trong thời kì tới    Một là,   sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật NSNN. Theo quy định, các quỹ tài chính quốc gia phải thực hiện lập kế hoạch thu, chi tài chính quỹ hàng năm ít cơ quan chủ quản duyệt y; thực hành vắng quyết toán tài chính hàng năm.

Tổng kết sơ bộ đến nay, có khoảng trên 20 quỹ/ loại quỹ tài chính nhà nước đã được thành lập ở Trung ương và địa phương, với quy mô, tính chất, phạm vi hoạt động khá đa dạng. Trong đó, có một số quỹ được NSNN cấp tương trợ vốn thành lập ban sơ hoặc tương trợ vốn trong quá trình hoạt động.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét